Analogy là gì

     
ktktdl.edu.vn chia sẻ mọi thứ về Game / Phần Mềm / Thủ Thuật dành cho máy tính với những tin hay nhất và những thông tin kiến thức hỏi đáp.

Hôm nay tranh thủ viết một bài chuyên về Analogies. Người chưa từng thi GRE, GMAT mà đi viết bài về Analogies! Nhưng không sao, mình viết Analogies cho học sinh bé thôi, hiểu sao thì viết vậy, không có chuyên môn nghe bà con, cũng đang học hỏi để học với mấy đứa con thôi.

Bạn đang xem: Analogy là gì

Đang xem: Analogy là gì

—————Mình đi từ chữ Analogy:

Trong tiếng Anh thì chữ này cũng có nghĩa căn bản là: tương tự, tương đương, tương đồng, giống nhau, đồng dạng. Trong tự điển Anh Việt của Viện Ngôn Ngữ học (XB hơn 10 năm trước) thì có nghĩa thứ hai là “phép loại suy: quá trình suy luận dựa trên sự giống nhau một phần giữa hai sự vật so sánh”

Thôi thì dùng tự điển Anh-Anh:

Analogy: similarity, agreement, comparability– Logic: a form of reasoning in which one thing is inferred to be similar to another thing in a certain respect, on the basis of the known similarity between the things in other respects.

– Logic, maths: a form of reasoning in which a similarity between two or more things is inferred from a known similarity between them in other respects

Tự điển Wesbter thì như thế này:

analogy:1: inference that if two or more things agree with one another in some respects they will probably agree in others2 a: resemblance in some particulars between things otherwise unlike : SIMILARITYb: comparison based on such resemblance3: correspondence between the members of pairs or sets of linguistic forms that serves as a basis for the creation of another form

Word Origin & Historyanalogy 1540s, from L. analogia, from Gk. analogia “proportion,” from ana- “upon, according to” + logos “ratio,” also “word, speech, reckoning.” A mathematical term used in a wider sense by Plato.

ratio, in accordance with, correspondence

Từ analogy có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp có nghĩa là tương ứng; tỉ lệ; phù hợp với.

—————–Học từ vựng cực như thế đó. Dân chuyên học ngoại ngữ thì có lẽ quá quen với cách tìm tòi từ mới như vậy, học luôn cái món “từ nguyên học – etymology”, tìm gốc gác của từ để hiểu ngọn nguồn của nó. Ít nhất thì cũng dùng tự điển của chính ngôn ngữ đang học, chứ ít khi dùng Anh – Việt (chỉ đối chiếu thôi, hay chuyển dịch ngôn ngữ). Lâu lắm rồi mình mới cầm lại cuốn tự điển song ngữ như thế này. Tưởng đâu là chẳng bao giờ dùng lại nữa?

Quay lại vấn đề “Phép loại suy”, không biết cha ông chúng ta khi dùng chữ loại ở đây có liên quan đến “phân loại” (categorization, classification) và “suy luận” (reasoning, making inference), mình chịu không biết, nếu là nghĩa “loại trừ” thì không đúng!

Theo tài liệu dành cho giáo viên tiểu học ở bên đây thì Analogy được hiểu như sau:

WHAT IS AN ANALOGY?An analogy is made from sets of words or concepts (or pictures/figures) that have a particular relationship. Analogy problems often show pairs of words. The relationship between the first pair is the same as the relationship between the second pair.

Mình thêm vào chứ pictures/figures nữa, vì các Bạn cũng thấy có analogies cho hình ảnh mà. Từ mối liên hệ của cặp thứ nhất, để suy ra mối liên hệ tương tự cho cặp thứ hai.

HOW CAN STUDENTS USE ANALOGIES?Analogies stimulate critical and creative thinking and can be used in all content and skill areas. They can teach and reinforce content, as well as assess students’ abilities to identify relationships and make connections.

Phép loại suy giúp kích thích tư duy phản biện và tư duy sáng tạo, có thể dùng trong nhiều lĩnh vực thuộc nội dung kiến thức và kỹ năng. Người ta dùng phép loại suy để dạy và củng cố nội dung kiến thức, cũng như đánh giá khả năng học sinh trong việc nhận ra các mối quan hệ và kết nối các dữ kiện.

Hầu như trong tất cả các môn học bên này đều có dùng phép loại suy: từ Language Arts, Social Studies (History, Geography …), Math ….

“Making connections” được nói nhiều trong quá trình suy nghĩ và đọc – viết (text-to-text; text-to-self; text-to-world)

THE DIFFERENT TYPES OF ANALOGIES:

1. Causal Analogies:A causal analogy shows a relationship between two pairs of words. In one kind of causal analogy, one word shows a cause and the other shows the effect of that cause. In the second kind of causal analogy, the second word in each each pair shows the result of a change made to the first word. Such a change may be, for example, a mathematical operation, or a change in a word’s tense or part of speech.

Xem thêm: Giải S Bt Vật Lý 9 Bài 4 Sbt, Sbt Vật Lí 9 Bài 4: Đoạn Mạch Nối Tiếp

2. Serial Analogies:A serial analogy shows a relationship between two pairs of words. In each pair, one word relates to the other in time, size, sequence, quantitiy or intensity.

3. Categorical Analogies: A categorical analogy shows a relationship between two pairs of words. In each pair, one word names a category and the other names an example from that category.

4. Descriptive Analogies: A descriptive analogy shows a relationship between two pairs of words. In each pair, one word describes a characteristic, property, part, function, structure, use, position, or location of the other.

5. Comparative Analogies: A comparative analogy shows a relationship between two pairs of words. The words in each pair are synonyms, antonyms, homonyms, or anagrams (two words that contain the same letters arranged in different ways, like silo and oils)

Người ta chia làm 5 loại như trên: nhân-quả, chuỗi, phân loại, miêu tả, so sảnh (khó dịch thiệt!) Bà con nào giỏi ngôn ngữ Việt thì dịch ra đi

WHY? – BENEFITS

Familiarity with analogies and critical thinking techniques can help to increase student achievement on standardized tests. Studying and understanding analogies also helps develop thinking skills, an essential concept for all students.….Most analogies, of course, are more challenging than these simple examples. To come up with the right answer, you will have to search for clues. This means looking for characteristics and associations that link the words. That’s why analogies are such popular testing tools: they require careful, logical reasoning.…Analogies are used on many standardized tests, and many educators feel that analogies are the best indicators of “intelligence” and “aptitude.” Analogies require students to think abstractly and analytically as opposed to working out problems in a rote fashion.…Analogy plays a significant role in problem solving, decision making, perception, memory, creativity, emotion, explanation and communication.…Analogous thinking is already a part of many classrooms.

The processes invovle in solving analogies in the content areas empower students. Thinking analogicaly requires learners to:– actively process information– make important connections– use information and skills to identify relationships– construct relationships and generate new knowledge– improve understanding and long-term memory

Các Bạn thấy có nhiều lý do tại sao mà người ta nhấn mạnh đến Analogies như vậy, vì đó là cái được “học” nhiều nhất trong suốt chương trình học phổ thông của Mỹ. Người ta không nói nhiều hay chỉ rõ ra, nhưng hầu như nơi đâu cũng có.

Các Bạn có nhìn thấy cái tưởng chừng như nghịch lý hay không? – PISA gì đó, lúc nào Phần Lan, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore, ngay cả Thượng Hải … cũng nằm trong những tốp cao, tốp đầu (VN năm nay tham gia thì phải), còn Mỹ thì lúc nào cũng nắm gần cuối bảng. Xem ra “dạy và học phổ thông ở Mỹ” có vấn đề, vì điểm toán và khoa học của học sinh trong các lần đánh giá đều ở mức thấp! Thế nhưng, ĐH Mỹ thì ai cũng công nhận là “tốt nhất thế giới”, có nhiều “sáng tạo” nhất thế giới???

Đêm qua, mình đã chơi với Bác Gúc khá lâu, đọc khá nhiều, kể cả Logic học đại cương của các trường ở HN và SG (ĐH KH XH & NV), để tìm hiểu gốc gác về từ “phép loại suy”.

Thế nhưng đọc xong cũng không hiểu, chắc là tối dạ quá!

*

Đọc các bài có chữ “loại suy” thì mình nhặt ra một vài ví dụ như sau:

Ví dụ thứ nhất về cách dùng chữ “phép loại suy”

—————————————–Môn Anh văn: “Bí” thì dùng phép loại suy Khi làm bài, thí sinh (TS) nên đọc thật kỹ các câu hỏi, trả lời trong phiếu trả lời bằng cách tô kín ô tròn tương ứng với chữ A, B, C hay D mà mình chọn.Về nội dung trả lời, kỹ năng làm bài và sự cẩn trọng cũng là yếu tố quyết định cho kết quả thi.Cần phân bố thời gian trả lời hợp lý, đừng mất quá nhiều thời gian cho một câu vì sẽ ảnh hưởng các câu sau. TS nên làm các câu dễ đối với mình trước, đánh dấu các câu chưa làm rồi quay lại làm sau. Đối với những câu mà mình không chắc thì nên đoán theo một quy tắc nào đó, ví dụ như phép loại suy. Cố gắng loại các câu sai rõ ràng thì sẽ dễ chọn câu đúng. Ví dụ: She saw a tiger A. since last week B. next month C. two days ago D. up to now. TS sẽ nghĩ ngay: Với since, dùng thì Present Perfect, với next month, dùng thì Future, vậy còn C và D, rõ ràng là dễ chọn hơn!Đối với những câu mà TS hoàn toàn không nhớ, không biết cách làm thì chỉ có cách chọn cầu may. Nhưng cần chú ý: Tất cả những câu “chọn đại”, hãy chọn cùng một mẫu tự, tất cả A hoặc tất cả B chẳng hạn, xác suất đúng sẽ cao hơn chọn ngẫu nhiên lúc câu A, lúc câu B hoặc câu C…Riêng phần đọc hiểu, TS nên đọc câu hỏi trước rồi đọc đoạn văn sau, có cái lợi là đỡ mất thời gian và đọc tập trung vào nội dung cần cho câu hỏi. Nguyên tắc tìm câu trả lời trong bài đọc là tìm phần nào có từ chính yếu giống từ chính yếu trong câu hỏi. Đối với loại câu hỏi “Which of the following is the main idea of the passage?” hay “Which of the following is best title for the message?” thì nên trả lời sau cùng, vì khi đã trả lời các câu khác xong là TS đã đọc hầu hết đoạn văn và đã nắm ý chính.Lê Quang Vinh (Giảng viên Trường ĐH Sư phạm TPHCM)http://www.baomoi.com/Cach-lam-tot-b…08/2892446.epi

—————————————–Ví dụ thứ 2 về chữ “phép loại suy”—————————————–

Ðây là Chương trình Anh Ngữ sinh động bài 256. Phạm Văn xin kính chào quí vị thính giả. Hôm nay chúng ta ôn lại những điểm sau đây:

– Cách phát âm những chữ thường phát âm sai vì chỉ nhìn vào mặt chữ và suy diễn theo phép loại suy (analogy) . Thí dụ: âm ea trong pea (hạt đậu) đọc là /i/ nhưng trong chữ peasant (nông dân) đọc là /e/. Ðộng từ to compare (so sánh) nhấn mạnh vần thứ nhì; nhưng tính từ comparable nhấn mạnh vần thứ nhất.

http://www.voanews.com/vietnamese/le…116178989.html

—————————————–Ví dụ thứ 3 về chữ “phép loại suy”—————————————–

Cơ cấu tổ chức của GRETổng kiểm tra bao gồm 3 phần, mỗi người trong số họ kết hợp các câu hỏi của các loại khác nhau:Khả năng bằng lời nói (Analogies, Từ, Hoàn thành câu, Đọc hiểu)Khả năng định lượng (định lượng so sánh, giải quyết vấn đề)Khả năng phân tích ViếtHãy mô tả mỗi phân nhóm:

Phép loại suy. Các câu hỏi loại này thử nghiệm khả năng của bạn để hiểu các kết nối hiện có giữa các từ. Bạn cần phải tìm kiếm cho cùng một loại kết nối. Có thể được kết nối của các trình độ, kích thước và vị trí tương tự.

Xem thêm: Nhận Xét Nào Sau Đây Không Đúng Về Axit Nitric Đặc Vào Dung Dịch Lòng

Từ. Kiểm tra từ vựng của bạn. Nó đòi hỏi kiến thức từ chung và khả năng nhìn thấy ánh sáng sắc thái giữa các biến thể trả lời. Kiểm tra kiến thức về các tính từ, động từ và danh từ. Các biến thể của câu trả lời có thể chứa từ riêng biệt hoặc các cụm từ. ….

http://tesol1.net/vi/GRE/—————————————–

Đọc xong 3 ví dụ trên thì mình cũng “suy nhược” luôn. Có lẽ tiếng Việt mình kém, nên bây giờ đọc gì cũng không hiểu nổi!

Để các Bạn dùng critical thinking mà thấy chữ “analogy” có ý nghĩa tương đồng nào với 3 cách sử dụng khác nhau của chữ “loại suy” ở trên không?Ví dụ 1, chữ “loại suy” được dùng với nghĩa gì? Ý tác giả hình như là “elimination of errors”Ví dụ 2, cách dùng chữ “loại suy” có thể chấp nhận được, gần với định nghĩa gốc.Ví dụ 3, hình như là máy Gúc dịch từ bản văn tiếng Anh ra tiếng Việt!

P.S. Hôm nay xin lỗi các Bạn vì đã ‘đăng” một bài dài và khô khan như thế này. Đọc xong đừng cười là mình “ngô nghê” nghe. Thấy các diễn đàn nổi sóng về dịch thuật: “Bản đồ và Lãnh thổ”, rồi Lottila, rồi Mật mã của Vinci …, rồi thấy cả ca sĩ đứng “chông chênh” trên chồng sách cũ quý giá nữa! Oải quá!