BIỆN CHỨNG LÀ GÌ

     

Trong quá trình nghiên cứu, học tập môn Triết học, chúng ta không thể không đặt câu hỏi “Phép biện chứng là gì?


Định nghĩa

Theo định nghĩa của Ph. Ăngghen, Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.

Bạn đang xem: Biện chứng là gì

Đó là phép biện chứng duy vật, tạo thành từ một loạt những nguyên lý, quy luật, phạm trù được khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực.

Xem thêm: Cách Vẽ Hình Chiếu Trục Đo Có Mấy Bước ? Cách Vẽ Hình Chiếu Trục Đo Trong Vẽ Kỹ Thuật

Về cơ bản, “một loạt những nguyên lý, quy luật, phạm trù” nêu trên bao gồm phạm trù vật chất, phạm trù ý thức, 02 nguyên lý, 03 quy luật và 06 cặp phạm trù cơ bản. Nắm được các nguyên lý, quy luật, phạm trù này tức là nắm được nội dung cốt lõi của phép biện chứng duy vật.

Xem thêm: Email News E-Letter Là Hình Thức, Newsletter Là Gì

02 nguyên lý của phép biện chứng nêu trên là:

03 quy luật nêu trên là:

06 cặp phạm trù cơ bản đề cập ở trên là:

Một cách hệ thống, ta có thể lập sơ đồ phép biện chứng duy vật như sau:

*
*
*
Thanh Long says:

Người ta hỏi Phép biện chứng là gì? Bạn lại copy máy móc trong sách ra. Làm ơn xem mà học đây này: https://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%87n_ch%E1%BB%A9ngTừ biện chứng (“dialectic”) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, và trở nên phổ biến qua những cuộc đối thoại kiểu Socrates của Plato. Biện chứng có nền tảng từ những cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều người với những ý kiến, tư tưởng khác nhau và cùng mong muốn thuyết phục người khác.

Phép biện chứng là một phương pháp triết học, cụ thể hơn, tư duy con người – phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn biện chứng:

Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào đó được gọi là một “chính đề”; một chính đề như thế thường sẽ tạo ra cái đối lập, do là, giống như hầu hết các sự vật tồn tại trên trời đất, có lẽ nó sẽ có giá trị hạn chế và sẽ có các điểm yếuPhản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập được gọi là “phản đề”, bởi vì nó nhằm phản đối lại cái trước tiên, tức chính đề. Cuộc tranh đấu giữa chính đề và phản đề diễn ra cho tới khi đạt được một giải pháp nào đó mà, theo một nghĩa nhất định, vượt lên trên cả chính đề và phản đề do nó phát hiện ra được các giá trị riêng của chúng và do nó cố gắng bảo tồn các tinh hoa và tránh các hạn chế của cả hai;Hợp đề: giải pháp đạt được ở bước thứ ba này được gọi là “hợp đề”. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra một phản đề mới. Do đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ cao hơn khi một hợp đề khác xuất hiện.


Leave a Reply Cancel reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *